Kamikaze chiến lược chiến đấu ác liệt không ngại hy sinh của quân đội Nhật Bản vào thế chiến thứ 2 trước kẻ địch để bảo vệ sự tôn nghiêm của con người Nhật Bản.

Bạn đang xem: Kamikaze là gì

Đến tận bây giờ khi nhắc đến chiến sách phi công cảm tử Kamikaze của người Nhật vào thế chiến thứ 2 chúng ta vẫn phải rùng mình và khâm phục trước những sự hy sinh dũng cảm đấy. Tuy nhiên theo nhiều nguồn tin khác nhau, các phi công được huấn luyện sơ sài để chiến đấu và sự thật đằng sau chương trình phi công cảm tử Kamikaze đó là gì? Cùng tìm hiểu về những chi tiết liên quan đến Kamikaze trong bài viết dưới dây!

Mục lục

Kamikaze là gì?

*

Tên gọi kamikaze

Tên gọi "thần phong" xuất phát từ thời kỳ 1274-1281 khi có một cơn bão đã cứu Nhật Bản khỏi thảm họa thôn tính của Đế quốc Mông Cổ. Khi quân Mông Cổ tấn công Nhật Bản với khí thế như san bằng nước Nhật, nhân dân Nhật hầu như chắc chắn bị thất thủ thì có một cơn bão nổi lên đánh chìm tàu thuyền quân Mông Cổ. Do đó người Nhật gọi cơn bão này là "thần phong".

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, một tokubetsu kōgeki tai (特別攻撃隊, đặc biệt công kích đội), hay đặc công đội (特攻隊 tokkōtai) được thành lập để tấn công bảo vệ Nhật Bản. Các đội thực hiện các cuộc tấn công tự sát của các đơn vị thuộc Hải quân Hoàng gia Nhật Bản được gọi là shinpū tokubetsu kōgeki tai (神風特別攻撃隊, thần phong đặc biệt công kích đội).

Sự ra đời của kamikaze

Vào cuối thế chiến thứ 2, khi quân đội Nhật đã có suy nghĩ rằng mình không thể nào chiến thắng mà họ chỉ đang đánh trong tuyệt vọng và nỗ lực hết mình, để đánh bại nỗi sợ thua quân địch là Mỹ. Trước khi quân đội của Đức đầu hàng Mỹ thì quân đội Nhật đã có suy nghĩ để quân đội mình chiến đấu cảm tử và Đại uý Motoharu Okamura là người đầu tiên đưa ra chiến lược Kamikaze, lúc đó Nhật nghĩ rằng nếu có thể làm quân đội Mỹ có tổn thất và thiệt hại nhiều hơn thì họ có thể đàm phán thay vì phải đầu hàng.

Okamura nói với Phó đô đốc Takijiro Onishi, Tư lệnh Phi đội 1 của Nhật: “Tôi tin chắc rằng cách duy nhất để thúc đẩy cuộc chiến có lợi cho chúng ta là tiến hành những cuộc tấn công liều chết ‘bổ nhào’ bằng máy bay”.

Okamura bảo đảm với Tư lệnh của mình là đàn ông Nhật sẽ sẵn sàng hy sinh mạng sống vì cơ hội cứu đất nước. “Hãy cho tôi 300 máy bay và tôi sẽ lật ngược thế cờ. Không còn cách nào khác”, viên Đại uý cam kết.

Cuộc tấn công cảm tử kamikaze trong thế chiến II

*
Hoàn cảnh lịch sử

Trong những năm đầu của thập niên 1940 khi hạm đội Mỹ đang khống chế Thái Bình Dương, và nổ ra những cuộc đụng độ giữa hải quân Nhật-Mỹ liên tục diễn ra, đặc biệt là sau trận Trân Châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 với thắng lợi thuộc về quân đội Mỹ vì Mỹ có ưu thế lớn về hải quân và không quân. Những thất bại đó mà đỉnh điểm là trận Hải chiến biển Philippines đã khiến quân Nhật nghĩ đến những phương sách khác.

Từ những năm 1943-1944, lực lượng Hoa Kỳ ngày càng tiến đến gần Nhật Bản. Các vũ khi chiến đấu cơ Nhật ngày càng lỗi thời, thua kém chất lượng và số lượng so với phi cơ Mỹ, đặc biệt là các máy bay F6F Hellcat và F4U Corsair. Lực Hải quân Nhật (IJNAS) bị tiêu hao trong các trận không chiến chống lại Đồng Minh tại Quần đảo Solomon và đảo New Guinea. Bên cạnh đó, trong trận chiến trên biển Philippine, Nhật mất hơn 400 máy bay trên tàu sân bay và phi công. Số phi công giàu kinh nghiệm ngày càng trở nên hiếm hoi và ít đi. Bệnh tật nhiệt đới, cũng như thiếu phụ kiện và xăng dầu, khiến cho hoạt động của IJNAS ngày càng trở nên khó khăn, mang đến những bất lợi nhất định cho công cuộc chiến đấu với quân Đồng Minh của Nhật Bản.

Trận Vịnh Leyte

Theo nhiều nguồn tin cho biết, tàu Đồng minh đầu tiên bị kamikaze tấn công là kỳ hạm của Hải quân hoàng gia Úc, tuần dương hạm hạng nặng Australia vào ngày 21 tháng 10 năm 1944. Cuộc tấn công này được thực hiện bởi một phi công không thuộc biệt đội của Onishi. Phi công này có lẽ là một phi công của Không lực Hoàng gia Nhật Bản (IJAAF) từ Lữ đoàn bay số 6, lái một chiếc Mitsubishi Ki-51 ("Sonia"). Cuộc tấn công diễn ra gần đảo Leyte khi xạ thủ từ tàu Australia và tàu bạn Shropshire bắn súng phòng không trúng 3 máy bay Nhật. Một chiếc khác bay vòng đi, rồi quay lại và bay thẳng vào tàu Australia, đánh trúng thượng tầng tàu trên đài chỉ huy, làm bắn tung dầu và mảnh vỡ khắp nơi trước khi rơi xuống biển. Sau cuộc tấn công đó con tàu của hoàng gia Úc đã thiệt hại 30 thủy thủ và làm hỏng nặng con tàu.

Vào ngày 26 tháng 10, 55 kamikaze từ lực lượng đặc nhiệm đã đánh chìm 1 tàu tàu sân bay hộ tống St. Lo, đánh bị thương các tàu sân bay hộ tống lớn Sangamon, Suwannee, Santee và tàu sân bay hộ tống nhỏ White Plains, Kalinin Bay và Kitkun Bay. Tổng cộng có 7 hàng không mẫu hạm bị đánh trúng, cộng với khoảng 40 tàu khác thiệt hại gồm 5 chiếc bị chìm, 23 bị thương nặng, 12 bị thương nhẹ.

Từ ngày 27/10 tới 1/11, 2 tàu sân bay cỡ lớn thuộc lớp Essex (Intrepid, Franklin), tàu sân bay hạng nhẹ USS Belleau Woods đã bị Kamikaze đánh hỏng nặng, ngoài ra có 1 tàu khu trục bị đánh chìm, 3 tàu khu trục và 1 tàu vận tải bị đánh hỏng nặng. Ngày 5/11, tàu sân bay cỡ lớn Lexington bị Kamikaze đánh hỏng nặng.

Giai đoạn ác liệt

Đây là giai đoạn mà chiến thuật cảm tử kamikaze được mở rộng nhất, khi Nhật Bản đã đánh bại nhiều hạm đội và tiêu diệt nhiều chỉ huy cấp cao của quân Đồng minh. Nhận thấy sự nguy hiểm đó, Mỹ bắt đầu lên đối sách để hạ bệ chiến thuật phi công cảm tử này của Nhật.

Đỉnh điểm vào ngày 6 tháng 4 năm 1945, 355 Kamikaze đã tham gia một cuộc tấn công lớn và hạm đội Mỹ đã kịp tiêu diệt 250 chiếc trước khi chúng lao vào mục tiêu. Những chiếc còn lại đã đánh hỏng nặng hàng không mẫu hạm Hancock, đánh đắm 2 tàu vận tải xung kích lớn và làm hư hại thiết giáp hạm Maryland và nhiều tàu khu trục. Ngày 12 tháng 4 năm 1945, 185 chiếc Kamikaze có 135 chiếc tiêm kích đi kèm đã mở cuộc tấn công mới nhưng kết quả của lần xuất kích này không đáp ứng được kỳ vọng của quân đội Nhật.

Xem thêm: " Final Exam Là Gì ? Nghĩa Của Từ Final Exam Trong Tiếng Việt

Đồng Minh phòng vệ

Đầu năm 1945, thiếu tá John Thach đã sáng tạo ra cách chiến đấu với không quân của Nhật Bản, chiến thuật chống lại kamikaze. Bằng cách ném bom các đường bay của Nhật để ngăn cản sự sửa chữa của không quân Nhật, vào cuối cuộc chiến, tổn thất của phe Đồng Minh đã giảm đi, dù sử dụng thêm rất nhiều tàu bè và bị tấn công dữ dội hơn. Lính thủy trên các tàu Đồng Minh cũng phát triển các kỹ thuật chống kamikaze, như bắn đại pháo xuống mặt biển trước các phi cơ địch bay thấp gần mặt nước biển, tạo thành các cột nước lớn trùm lên phi cơ địch để khiến chúng bị mất điều khiển và rơi.

Sự kết thúc

22 tháng 6 năm 1945 với sự thất bại của quân đội Nhật, cuộc chiến ở Okinawa đã kết thúc.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng Hirohito đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Những phi công thần phong kamikaze

*

Sự tự nguyện, dũng cảm trở thành kamikaze trong chiến tranh

Chiến thuật kamikaze đã tạo được tiếng vang và thành công lớn một thời cho tinh thần chiến đấu của quân đội Nhật Bản. Họ tin rằng thà chết còn hơn sống như một kẻ hèn hạ.

Đại tá Motoharu Okamura nhận xét "có nhiều người tình nguyện cho các phi vụ cảm tử đến mức đông như đàn ong. Các phi công Kamikaze tin tưởng bằng sự hy sinh của mình, họ đã đền đáp lại công ơn gia đình, bạn bè và Thiên hoàng.

“Họ hăng hái đến mức khi chuyến bay bị trì hoãn hay hủy bỏ, thì các phi công trẻ được huấn luyện sơ sài này tỏ ra hết sức bực dọc. Nhiều người sau khi được chọn thực hiện các phi vụ cảm tử được kể lại là rất hân hoan vui sướng trước phi vụ cuối cùng của mình".

Chế độ huấn luyện

Khi lựa chọn để trở thành một phi công cảm tử, điều kiện đầu tiên đó là tình nguyện, trẻ tuổi đều được có cơ hội trở thành một kamikaze. Những người tình nguyện trở thành kamikaze hầu như đều là những lớp người như phi công chính quy, binh lình và cả sinh viên.

Vì thời gian gấp rút vì vậy việc huấn luyện phi công cho chiến dịch này chỉ vỏn vẹn trong 7 ngày. Trong đó 2 ngày cho việc cất cánh với 1 quả bom 250kg; 2 ngày cho việc bay theo đội hình và 3 ngày tập cách tiếp cận mục tiêu và tấn công. Theo đó các phi công kamikaze được dạy rằng phải bổ nhào nhắm vào giữa tháp chỉ huy và ống khói, vì đó là cách hiệu quả nhất để đánh chìm tàu địch.

Thời khắc ra đi mãi mãi

Các phi công kamikaze sau quá trình huấn luyện đặc biệt 2 ngày, trước nhiệm vụ cuối cùng được bắt đầu họ đã viết một bức thư để gửi về nhà trước khi hy sinh. Sáng sớm sau buổi thuyết trình ca ngợi của chỉ huy, họ được phát một cái bánh nướng và một ly rượu sake biểu tượng của lời chào tạm biệt chân thành của Nhật Bản.

Họ đứng trước máy bay, đầu quấn quốc kỳ Nhật Bản, mặc bộ đồ phi công và treo một thanh kiếm Nhật bên hông, gửi một lời chào tôn kính về phía cung điện của Nhật Hoàng. Trong suốt chuyến bay, radio của chỉ huy trưởng luôn nói một câu” thà chết một cách vinh quang còn hơn sống như một kẻ hèn nhát”.

Cuộc sống sau chiến tranh của kamikaze

*

Cuộc sống của kamikaze

Sau cuộc chiến tranh, các phi công cảm tử được huấn luyện còn sống sót được trở về nhà, tuy nhiên Nhật đã đầu hàng đồng minh và trở thành một đất nước thua cuộc, nhiều binh lính mổ bụng tự sát để chứng minh tinh thần võ sĩ bất diệt của Nhật Bản. Các phi công kamikaze bị lãng quên dần theo năm tháng, sự hào hùng, anh dũng của binh lính Nhật Bản một thời đã dần phai nhạt đi, trở về cuộc sống bình thường họ trở thành công nhân cho những nhà máy, bắt đầu cuộc sống trôi qua thầm lặng mà chết đi. Nhiều người Nhật cho rằng đến thời điểm hiện nay người Nhật đã mất đi những đức tính của một võ đạo sĩ thực thụ, điều này thực đáng tiếc cho một thời huy hoàng của Nhật Bản.

Biểu tượng anh hùng của nước Nhật

Dù chiến tranh đã qua đi lâu, nhưng biểu tượng những anh hùng kamikaze trong lòng người dân Nhật Bản vẫn sống mãi, như một đế chế samurai đã từng tồn tại huy hoàng ở đế quốc Nhật Bản một thời.